Lương
Thế
Vinh
(1441-1496),
tự
là
Cảnh
Nghị,
hiệu
Thụy
Hiên,
quê
tại
huyện
Vụ
Bản,
tỉnh
Nam
Định
ngày
nay.
Theo
sách Những
tấm
gương
hiếu
học
xưa
và
nay,
ngay
từ
bé,
Lương
Thế
Vinh
đã
nổi
tiếng
học
giỏi
nhưng
cũng
rất
ham
chơi.
Ông
là
người
biết
kết
hợp
giữa
chơi
và
học
nên
không
gò
bó
mà
vẫn
đạt
kết
quả
cao.
Học
mà
chơi
Khác
với
nhiều
bạn
bè
cùng
trang
lứa
chỉ
biết
“học
vẹt”,
để
thuộc
làu
kinh
sử,
Lương
Thế
Vinh
suy
ngẫm,
đào
sâu
rất
kỹ.
Ông
học
một
biết
mười
và
muốn
đem
kiến
thức
trong
sách
vở
ứng
dụng
vào
cuộc
sống.
Lúc
thả
diều,
Lương
Thế
Vinh
tìm
ra
cách
để
đo
chiều
dài
của
dây,
độ
cao
của
diều.
Khi
đi
câu
cá,
ông
lại
chú
tâm
tìm
hiểu
đời
sống
các
sinh
vật,
ước
đo
chiều
dài
ao
hồ,
độ
nông
sâu
của
mực
nước…
Sách Kể
chuyện
thần
đồng
Việt
Nam của
giáo
sư
Vũ
Ngọc
Khánh
kể
hồi
ấy,
Lương
Thế
Vinh
và
Quách
Đình
Bảo
là
hai
người
nổi
tiếng
thông
minh
khắp
trấn
Sơn
Nam
(Thái
Bình
-
Hà
Nam
bây
giờ).
Một
hôm
sắp
đến
kỳ
thi,
Lương
Thế
Vinh
sang
tìm
Quách
Đình
Bảo
để
bàn
chuyện
về
kinh
ứng
thí.
Khi
gần
đến
nơi,
ghé
vào
uống
nước,
Lương
Thế
Vinh
nghe
tiếng
Quách
Đình
Bảo
đang
ngày
đêm
“dùi
mài
kinh
sử”
đến
quên
ngủ,
quên
ăn
với
hy
vọng
đứng
đầu
bảng
vàng
trong
kỳ
thi
sắp
tới.
|
|
|
Chân
dung
quan
trạng
Lương
Thế
Vinh.
Đền
thờ
ông
hiện
đặt
tại
xã
Liên
Bảo,
huyện
Vụ
Bản,
Nam
Định.
|
Lương
Thế
Vinh
cười
nói:
"Kỳ
thi
đến
nơi
mà
còn
chúi
đầu
vào
sách,
cố
tụng
niệm
thêm
vài
chữ,
vậy
mà
cũng
gọi
là
biết
cách
học
ư?
Ta
vào
cũng
chẳng
có
gì
để
bàn
bạc".
Khi
chuyện
đến
tai,
Quách
Đình
Bảo
nói
rằng:
“Người
đó
chắc
chắn
là
Lương
Thế
Vinh,
ta
phải
tìm
gặp
mới
được”.
Trên
đường
đi,
Quách
Đình
Bảo
nghĩ
Lương
Thế
Vinh
đang
đọc
sách.
Lúc
ông
đến
nơi,
người
nhà
bảo
Lương
Thế
Vinh
đang
đi
thả
diều.
Quách
Đình
Bảo
ra
bãi
tìm,
thấy
Lương
Thế
Vinh
đang
thả
diều
cùng
bạn
bè
nên
phục
lắm.
Chàng
trai
tự
nghĩ:
"Người
này
khôi
ngô
tuấn
tú,
phong
thái
ung
dung,
ta
có
học
mấy
cũng
không
theo
kịp".
Quả
nhiên
sau
đó,
trong
khoa
thi
Quý
Mùi
(1463)
dưới
thời
vua
Lê
Thánh
Tông,
Lương
Thế
Vinh
đỗ
trạng
nguyên,
còn
Quách
Đình
Bảo
đỗ
thám
hoa
(xếp
thứ
ba).
Kỳ
tài
toán
học
nước
nhà
Lê
Thánh
Tông
vốn
hay
chữ,
trọng
hiền
tài
nên
khi
thấy
Lương
Thế
Vinh
thông
minh,
tài
giỏi,
nhà
vua
rất
yêu
quý.
Vua
thường
giữ
ông
bên
mình,
giao
cho
những
nhiệm
vụ
quan
trọng
cả
về
đối
nội
lẫn
đối
ngoại.
Không
chỉ
là
tài
năng
lỗi
lạc
về
văn
thơ,
thông
thuộc
sách
thánh
hiền,
Lương
Thế
Vinh
còn
quan
tâm
nhiều
lĩnh
vực
khoa
học
khác,
đặc
biệt
là
toán
học.
Vốn
sinh
ra
ở
vùng
nông
thôn,
quanh
năm
gắn
bó
với
đồng
ruộng,
thấu
hiểu
cuộc
sống
khổ
cực
của
nông
dân,
ông
rất
muốn
tìm
cách
giúp
họ.
Một
lần,
khi
đi
kinh
lý,
thấy
hai
nông
dân
đang
cãi
nhau
khi
chia
mảnh
đất
có
hình
dáng
phức
tạp.
Nghe
rõ
câu
chuyện,
ông
xắn
quần
lội
xuống
tận
nơi
để
chỉ
ra
chỗ
đúng,
sai
và
giúp
họ
chia
lại
mảnh
ruộng
một
cách
công
bằng.
Lần
khác,
người
dân
tìm
cách
đo
chiều
rộng
của
khúc
sông
để
bắc
cầu,
nhưng
nước
chảy
xiết,
việc
đo
đạc
khó
khăn.
Lương
Thế
Vinh
nói:
"Không
cần
phải
qua
sông
mới
đo
được".
Mọi
người
tưởng
ông
nói
đùa.
Lương
Thế
Vinh
dùng
phương
pháp
mà
ngày
nay
gọi
là
“tam
giác
lượng”
để
đo
chính
xác
chiều
rộng
của
sông.
Sau
này,
để
phổ
biến
kiến
thức
toán
học
vào
đời
sống,
Lương
Thế
Vinh
soạn
cuốn Đại
thành
toán
pháp.
Ông
đã
tổng
kết
những
kiến
thức
của
thời
đó
và
cả
phần
mình
phát
minh.
Đây
chính
là
một
trong
những
công
trình
nổi
bật
nhất
trong
lĩnh
vực
khoa
học
tự
nhiên
của
nước
ta
dưới
thời
phong
kiến.
Quyển Đại
thành
toán
phápcủa
ông
được
đưa
vào
chương
trình
thi
cử
suốt
450
năm
trong lịch
sử
giáo
dục
Việt
Nam.
Tương
truyền,
khi
sứ
nhà
Minh
là
Chu
Hy
thách
đố
ông
cân
một
con
voi,
Lương
Thế
Vinh
đã
đưa
voi
lên
chiếc
thuyền
rồi
đánh
dấu
mép
nước.
Sau
đó,
ông
cho
dắt
voi
lên,
đổ
đá
hộc
xuống
thuyền
cho
đến
lúc
thuyền
chìm
xuống
đến
đúng
dấu
cũ.
Việc
còn
lại
là
đưa
từng
viên
đá
lên
cân
và
cộng
kết
quả.
Chu
Hy
thán
phục
nhưng
vẫn
tiếp
tục
đố
ông
đo
bề
dày
của
một
tờ
giấy
xé
ra
từ
quyển
sách.
Khi
nghe
ông
nói
chỉ
cần
đo
bề
dày
cả
cuốn
sách
rồi
chia
đều
cho
số
tờ
là
ra
ngay
kết
quả,
Chu
Hy
ngửa
mặt
lên
trời
than
rằng
"nước
Nam
quả
lắm
người
tài!".
Lương
Thế
Vinh
đáp
lại
người
nghĩ
ra
cách
cân
voi
thật
sự
là
Tào
Xung,
con
của
Tào
Tháo.
Điều
này
càng
khiến
cho
sứ
nhà
Minh
hổ
thẹn
vì
không
biết
sử
nước
nhà.