Xuyên
suốt
chiều
dài
lịch
sử,
các
kỳ
thi
được
triều
đình
đặc
biệt
coi
trọng,
tổ
chức
nghiêm
túc.
Tiêu
biểu
như
trong
kỳ
thi
Đình,
vua
tự
đích
thân
ra
đề
và
chấm
thi
để
chọn
ra
những
người
đỗ
cao
nhất.
Bất
kỳ
ai
vi
phạm
quy
chế
đều
bị
xử
tội
rất
nặng,
nhẹ
thì
bị
hạ
chức
tước,
nặng
có
thể
bị
xử
tử.
Tiến
sĩ
mất
mạng
vì
gian
lận
thi
cử
Ngô
Sách
Tuân
(1648-1697),
người
xã
Tam
Sơn,
huyện
Đông
Ngàn
(nay
thuộc
xã
Tam
Sơn,
thị
xã
Từ
Sơn,
Bắc
Ninh).
Ông
sinh
ra
trong
một
gia
đình
khoa
bảng
danh
tiếng
bậc
nhất
lúc
bấy
giờ,
có
cha
và
anh
trai
ông
cùng
đỗ
tiến
sĩ
và
làm
quan
to
trong
triều.
Năm
29
tuổi
(1676),
triều
vua
Lê
Hy
Tông,
Ngô
Sách
Tuân
thi
đỗ
tiến
sĩ,
ông
làm
quan
tới
Lại
bộ
Hữu
thị
lang.
Dù
là
bậc
đại
thần
chấn
đương
thời,
Ngô
Sách
Tuân
cuối
cùng
đã
phải
đón
nhận
kết
cục
bi
thảm
vì
tội
tự
ý
chỉnh
sửa
bài
thi
của
thí
sinh
trong
kỳ
thi
nho
học
năm
1694.
Với
bản
án
này,
Ngô
Sách
Tuân
vừa
mất
mạng,
vừa
để
lại
tiếng
xấu
muôn
đời.
Theo
Khâm
định
Việt
sử
thông
giám
cương
mục,
lúc
bấy
giờ,
Ngô
Sách
Tuân
được
triều
đình
giao
giữ
chức
Phó
chủ
khảo
trường
thi
Thanh
Hoa
(Thanh
Hóa).
Trước
khi
đi
ông
có
đến
yết
kiến
quan
Tham
tụng
là
Lê
Hy.
Lê
Hy
bèn
đem
hình
dáng
giấy
đóng
quyển
thi
của
các
con
mình
cho
Ngô
Sách
Tuân
biết
và
ngỏ
ý
nhờ
giúp
đỡ.
Vốn
là
người
có
hiềm
khích
với
Lê
Hy
trước
đây
nên
Ngô
Sách
Tuân
cũng
muốn
nhân
dịp
này
để
xóa
bỏ
ân
oán
nên
đã
nhận
lời
-
Trước
đó
Ngô
Sách
Tuân
tố
cáo
Lê
Hy
lên
triều
đình
về
chuyện
ông
này
lén
lút
đưa
người
con
trai
và
học
trò
không
có
năng
lực
vào
quan
trường,
nhưng
vì
không
đủ
bằng
chứng
để
kết
tội
Lê
Hy
nên
Ngô
Sách
Tuân
đã
bị
giáng
chức.
Sau
khi
chấm
bài,
thấy
quyển
thi
của
các
con
Lê
Hy
không
được
xếp
vào
hạng
trúng
cách
(đỗ),
nhưng
vì
muốn
nhân
dịp
này
xoá
mối
hiềm
khích
với
Lê
Hy,
Ngô
Sách
Tuân
đãn
lấy
quyển
thi
của
con
Lê
Hy
đưa
cho
các
quan
giám
khảo,
bảo
họ
phê
lấy
đỗ.
Quan
Đề
điệu
trường
thi
này
là
Phó
đô
ngự
sử
Ngô
Hải
biết
chuyện,
có
thề
với
Ngô
Sách
Tuân
sẽ
giấu
kín,
nhưng
lại
bị
quan
Tham
chính
Phan
Tự
Cường
phát
giác
tâu
lên.
Ngô
Sách
Tuân
bị
khép
tội
giảo
(thắt
cổ
chết),
Ngô
Hải
bị
bãi
chức,
các
quan
giám
khảo
và
phúc
khảo
đều
bị
phạt,
còn
Phan
Tự
Cường
được
thăng
chức
Thiêm
đô
ngự
sử.
Dù
đã
xử
lý
nghiêm
khắc
Ngô
Sách
Tuân,
tuy
nhiên
vụ
án
này
vẫn
chưa
khiến
hậu
thế
hài
lòng,
bởi
cha
con
Lê
Hy
không
bị
xử
phạt
gì.
Đánh
giá
về
vụ
án
này,
Quốc
sử
quán
triều
Nguyễn
cho
rằng,
"Lê
Hy
làm
Tể
tướng
một
nước,
thế
mà
gởi
gắm
con
mình
cho
viên
quan
giữ
việc
chấm
thi
và
Ngô
Sách
Tuân
xu
nịnh
với
riêng
bậc
đại
thần
mà
mình
nhận
lời
kí
thác,
đặt
trong
phép
nước
mà
xét
thì
tội
hai
người
như
nhau,
vậy
mà
chỉ
mình
Ngô
Sách
Tuân
bị
trị
còn
cha
con
Lê
Hy
thì
không
ai
xét
hỏi
gì
đến,
như
thế
thì
còn
gọi
là
phép
nước
làm
sao
được
nữa”!
Cao
Bá
Quát
và
vụ
sửa
bài
thi
chấn
động
lịch
sử
Cao
Bá
Quát
(?-
1855),
tự
là
Chu
Thần,
hiệu
Mẫn
Hiên,
sinh
tại
làng
Phú
Thị,
huyện
Gia
Lâm,
tỉnh
Bắc
Ninh
(nay
là
xã
Quyết
Chiến,
huyện
Gia
Lâm,
Hà
Nội).
Năm
1831,
dưới
đời
vua
Minh
Mạng,
Cao
Bá
Quát
thi
Hương
đỗ
Á
nguyên
tại
trường
thi
Hà
Nội.
Năm
1841,
đời
vua
Thiệu
Trị,
khi
có
quan
tỉnh
Bắc
Ninh
tiến
cử,
Cao
Bá
Quát
được
triệu
vào
kinh
đô
Huế
làm
Hành
tẩu
ở
bộ
Lễ.
Dù
là
vị
quan
thanh
liêm
và
nổi
tiếng
chính
trực,
nhưng
Cao
Bá
Quát
cũng
suýt
phải
bỏ
mạng
vì
tội
chỉnh
sửa
bài
thi.
Theo
Đại
Nam
thực
lục,
tháng
8/1841,
Cao
Bá
Quát
được
cử
làm
sơ
khảo
trường
thi
Thừa
Thiên.
Thấy
một
số
bài
thi
hay
nhưng
có
chỗ
phạm
trường
quy,
ông
bàn
với
đồng
sự
là
Phan
Thời
Nhạ
lấy
son
hòa
với
muội
đèn
chữa
lại
24
bài.
Khi
vụ
việc
bị
phát
hiện,
Bộ
Lễ
và
Viện
Đô
sát
điều
tra,
Cao
Bá
Quát
nhận
tất
cả
“Tôi
thấy
các
bài
hay
sính
bút
làm
vậy
chứ
không
ai
gửi
gắm,
dặn
dò
gì
cả”.
Án
được
dâng
lên
vua,
Cao
Bá
Quát
và
Phan
Thời
Nhạ
bị
tội
tử
hình.
Nguyễn
Văn
Siêu
bị
tội
phạt
trượng
và
tội
đồ
(đi
đày).
Chủ
khảo
Bùi
Quỹ
và
giám
khảo
Phan
Văn
Nhã,
Trương
Hảo
Hợp
bị
giáng
chức.
Sau
này,
thấu
hiểu
nỗi
lòng
của
cao
Bá
Quát,
vua
Thiệu
Trị
ra
lệnh
tha
tội
chết
cho
ông
với
lời
phán
rằng
“chọn
người
tài
giỏi
là
một
điển
lễ
long
trọng,
bọn
Quát
dám
làm
trái
phép
như
thế,
khép
vào
tội
nặng
cũng
đáng.
Song
ta
nghĩ
do
sự
khờ
dại
mà
làm
ra,
chứ
không
có
tình
tiết
gì
khác,
còn
có
thể
khoan
tha
cho
tội
xử
tử…".
Nhờ
đó,
Cao
Bá
Quát
được
giảm
án
từ
“trảm
quyết”
(chém
chết
ngay)
thành
“giảo
giam
hậu”
(giam
lại,
xử
chết
sau).
Cuối
cùng,
ông
bị
tống
ngục.
Sau
gần
3
năm
bị
giam,
tới
năm
1843,
ông
cùng
Đào
Trí
Phú
đi
công
cán
đến
Indonesia
để
lập
công
chuộc
tội.
Sau
chuyến
đi
trở
về,
ông
lại
được
vào
Viện
hàn
lâm
để
lo
việc
sưu
tầm
và
xếp
đặt
văn
thư.